User Tools

Site Tools


0136--cu-c-v-y-h-m-olm-tz-la-gi

Differences

This shows you the differences between two versions of the page.

Link to this comparison view

0136--cu-c-v-y-h-m-olm-tz-la-gi [2018/11/07 17:09] (current)
Line 1: Line 1:
 +<​HTML>​ <​br><​div id="​mw-content-text"​ lang="​vi"​ dir="​ltr"><​div class="​mw-parser-output"><​p><​b>​Cuộc vây hãm Olmütz</​b>​ là một trận bao vây trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm, diễn ra khi vị vua - chiến binh nước Phổ là Friedrich II Đại Đế xuất chinh đánh xứ Mähren thuộc Vương triều nhà Habsburg vào Mùa Xuân năm 1758. Số là do quân Nga xâm chiếm vùng Đông Phổ nên ông quyết tâm tung một đòn giáng vào nước Aó nhằm loại Áo ra khỏi vòng chiến trước khi tìm diệt người Nga. Lúc bấy giờ Olmütz là pháo đài lớn nhất của Quân đội Áo.<sup id="​cite_ref-jayluvas244_4-0"​ class="​reference">​[4]</​sup>​ Trận công kích này cuối cùng đã bị sách lược của Thống chế Áo là Bá tước Leopold Joseph von Daun đánh bại,<​sup id="​cite_ref-jones302_5-0"​ class="​reference">​[5]</​sup>​ song Friedrich II Đại Đế đã tổ chức cuộc lui binh hiển hách.<​sup id="​cite_ref-dull124_3-1"​ class="​reference">​[3]</​sup></​p><​p>​Sau khi chiến dịch năm 1757 kết thúc thắng lợi, nhà vua Friedrich II Đại Đế tiến quân vào vùng Mähren và tổ chức trận công kích này.<​sup id="​cite_ref-jayluvas244_4-1"​ class="​reference">​[4]</​sup>​ Pháo đài Olmütz vốn đã được quân Áo gầy dựng hết sức vững chãi, kiên cố. Ông cũng chọn một vị trí cho mình để theo dõi kẻ địch phòng vệ. Giữa trận vây này, Thống chế Leopold Joseph von Daun - kình địch của nhà vua nước Phổ, đã có thời cơ để thể hiện năng lực của những lực lượng Khinh Kỵ Binh Áo: họ gây rối loạn đường tiếp tế của Quân đội Phổ,<​sup id="​cite_ref-jones302_5-1"​ class="​reference">​[5]</​sup>​ làm tổn thương lớn cho cuộc công kích của Quân đội Phổ.<​sup id="​cite_ref-ritter115116_6-0"​ class="​reference">​[6]</​sup>​ Thay vì đó, Daun không tiếp chiến trực diện với quân địch. Thành thử trận đánh trở nên tồi tệ, bất lợi nghiêng hẳn về phe Friedrich II Đại Đế, làm ông phải hết sức lệ thuộc vào viện binh. Lực lượng quân Phổ phong tỏa pháo đài thì lại quá yếu kém. Song, đội viện binh của Phổ do Trung tướng Hans Joachim von Ziethen chỉ huy đã bị quân Áo đánh tan tác trong trận Domstadtl.<​sup id="​cite_ref-Duffy159_7-0"​ class="​reference">​[7]</​sup>​ Để rồi cuối cùng, Friedrich II Đại Đế phải rút đại binh về đánh nhau với quân Nga nhằm ngăn ngừa Nga - Aó hội quân với nhau.<​sup id="​cite_ref-8"​ class="​reference">​[8]</​sup></​p><​p>​Đây là một trong những trận công kích đầy tham vọng nhất của Friedrich II Đại Đế. Do nhược điểm của lực lượng Quân đội Phổ trong chiến tranh vây hãm nên trận vây hãm Olmütz ​ cũng thất bại như vài trận vây hãm khác của họ.<​sup id="​cite_ref-9"​ class="​reference">​[9]</​sup>​ Thống chế Daun đã áp dụng xuất sắc chiến thuật của danh tướng Fabius thời La Mã cổ, làm hỏng kế hoạch của Friedrich II Đại Đế.<​sup id="​cite_ref-jones302_5-2"​ class="​reference">​[5]</​sup>​ Ngoài ra, chiến thắng trong trận Domstadtl cũng thể hiện năng lực của Tướng ​ Gideon Ernst von Laudon, đóng góp to lớn cho thắng lợi của nước Áo. Sự đổ vỡ của cuộc vây hãm này thể hiện khó khăn của các đoàn quân tham chiến trong việc làm nên một cuộc tấn công chiến lược: người Phổ vốn trước kia đã bất thành tại xứ Böhmen.<​sup id="​cite_ref-dull124_3-2"​ class="​reference">​[3]</​sup>​ Tuy nhiên, Friedrich II Đại Đế tuy thất bại trong kế hoạch đánh chiếm Olmütz nhưng không phải là bị đại bại. Ông đã tổ chức một cuộc rút quân chỉnh chu, dũng mãnh, làm cho chiến thắng của Daun bị mất giá trị đến mức nghiêm trọng.<​sup id="​cite_ref-Duffy159_7-1"​ class="​reference">​[7]</​sup>​ Vốn là Daun lo sợ nhà vua nước Phổ sẽ tấn công vào một nửa quân của ông nên ông chẳng hề dám đụng đến đoàn quân Phổ tinh nhuệ. Tướng Laudon cũng có nỗi lo âu tương tự nên không thể làm gì nổi, khiến vua Phổ rút vè an toàn.<​sup id="​cite_ref-vonclausewitz385_2-1"​ class="​reference">​[2]</​sup></​p><​p>​Friedrich II Đại Đế rút quân về Böhmen, sau đó ông lại kéo đại quân về tỉnh Schliesen. Song, không lâu sau ông Bắc tiến về xứ Brandenburg và đánh thắng quân Nga trong trận thư hùng ác liệt ở Zorndorf, cứu nguy nước Phổ.<​sup id="​cite_ref-ritter115116_6-1"​ class="​reference">​[6]</​sup><​sup id="​cite_ref-10"​ class="​reference">​[10]</​sup></​p>​
  
 +<​p>​Chiến dịch năm 1757 của cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756 - 1763) đã kết thúc sau khi quân Phổ đại thắng quân Pháp trong trận Roßbach, đại phá quân Áo trong trận Leuthen đồng thời tái chiếm phần lớn tỉnh Schliesen từ tay quân Áo. Quân Áo lâm vào thảm cảnh hết sức nặng nề. Trong khi ấy, vinh quang quân sự của nhà vua nước Phổ là Friedrich II Đại Đế đã lên tới đỉnh cao huy hoàng.<​sup id="​cite_ref-ritter115116_6-2"​ class="​reference">​[6]</​sup>​ Cuối năm 1757, ông đã nghỉ đông tại thành Breslau là thủ phủ của tỉnh Schliesen.<​sup id="​cite_ref-Duffy15558_11-0"​ class="​reference">​[11]</​sup></​p><​p>​Vào tháng 1 năm 1758, Friedrich II Đại Đế cả tin rằng quân Áo sau chiến bại thê lương của mình sẽ phải rút khỏi cuộc chiến.<​sup id="​cite_ref-Duffy15558_11-1"​ class="​reference">​[11]</​sup>​ Do Quân đội Áo đã bị hủy diệt trong trận thư hùng đẫm máu ở Leuthen nên việc tái dựng ba quân là một thử thách rất lớn đối với Đại Công nương Áo là Maria Theresia - Hoàng hậu của Đế quốc La Mã Thần thánh kiêm Nữ vương xứ Hungary. Quân Phổ có thêm nhiều tân binh, nhưng trong khi đó Maria Theresia cũng quyết tâm theo đuổi cuộc chiến: bà huyền chức Tổng tư lệnh quân Áo là Vương công Karl Alexander xứ Lothringen và cử Bá tước Leopold Joseph von Daun lên thay. Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu Áo cũng được thiết lập.<​sup id="​cite_ref-12"​ class="​reference">​[12]</​sup>​ Trong khi ấy, về phía Phổ thì thực chất chiến dịch năm 1757 đã đánh mất sinh mạng của bao nhiêu tướng tài và tinh binh của họ. Theresia cũng tiến hành bàn cãi với các đồng minh của Áo về chiến dịch sắp tới. Nước Nga giờ đây quyết tâm tham chiến mãnh liệt hơn lần trước, khi Nữ hoàng Elizaveta Petrovna khỏi bệnh.<​sup id="​cite_ref-13"​ class="​reference">​[13]</​sup>​ Tuy nhiên, nước Pháp thì không bao giờ dám đánh trực diện với nhà vua nước Phổ nữa, mà bị liên quân Anh và các tiểu quốc Tây Đức do Vương công Ferdinand xứ Brunswick đánh chận ở miền Tây Đức. Quân Pháp đại bại.<​sup id="​cite_ref-Duffy15558_11-2"​ class="​reference">​[11]</​sup></​p><​p>​Friedrich II Đại Đế hiểu rõ rằng trọng trách của ông là đánh đuổi quân Nga, do quân Nga đã xâm chiếm miền Đông Phổ vào tháng 1 năm 1758 và họ đang sẵn sàng tiến đánh miền sông Oder. Ông quyết tâm ra trận thật sớm, tung một đòn giáng chiến lược chí mạng nhằm tổn thương quân Áo, để cho ông được tha hồ đập nát quân Nga.<sup id="​cite_ref-Duffy15558_11-3"​ class="​reference">​[11]</​sup></​p>​
 +
 +<div class="​reflist"​ style="​list-style-type:​ decimal;">​
 +<ol class="​references"><​li id="​cite_note-1"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Franz A.J. Szabo, <​i>​The Seven Years War in Europe: 1756-1763</​i>,​ trang 437</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-vonclausewitz385-2">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​General Carl Von Clausewitz, <i>On War</​i>,​ trang 385</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-dull124-3">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Jonathan R. Dull, <​i>​The French Navy and the Seven Years' War</​i>,​ trang 124</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-jayluvas244-4">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Jay Luvaas, <​i>​Frederick the Great on the Art of War</​i>,​ trang 241</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-jones302-5">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Archer Jones, <​i>​The art of war in the Western world</​i>,​ trang 302</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-ritter115116-6">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Gerhard Ritter, <​i>​Frederick the Great: a historical profile</​i>,​ các trang 115-116.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-Duffy159-7">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Christopher Duffy, <​i>​Frederick the Great: A Military Life</​i>,​ các trang 159-161.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-8"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Russell Frank Weigley, <​i>​The Age of Battles: The Quest for Decisive Warfare from Breitenfeld to Waterloo</​i>,​ trang 188</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-9"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Christopher Duffy, <​i>​The army of Frederick the Great</​i>,​ trang 127</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-10"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Alfred Schlieffen (Graf von), United States. Command and General Staff School, Fort Leavenworth,​ <​i>​Cannae</​i>,​ Tập 1, trang 11</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-Duffy15558-11">​^ <​sup><​i><​b>​a</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​ă</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​â</​b></​i></​sup>​ <​sup><​i><​b>​b</​b></​i></​sup>​ <span class="​reference-text">​Christopher Duffy, <​i>​Frederick the Great: A Military Life</​i>,​ các trang 155-158.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-12"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​Franz A.J. Szabo, <​i>​The Seven Years War in Europe: 1756-1763</​i>,​ các trang 122-128.</​span>​
 +</li>
 +<li id="​cite_note-13"><​b>​^</​b>​ <span class="​reference-text">​C.T. Atkinson, <i>A history of Germany, 1715-1815</​i>,​ các trang 226-228.</​span>​
 +</li>
 +</​ol></​div>​
 +<​!-- ​
 +NewPP limit report
 +Parsed by mw1269
 +Cached time: 20181014095237
 +Cache expiry: 1900800
 +Dynamic content: false
 +CPU time usage: 0.180 seconds
 +Real time usage: 0.217 seconds
 +Preprocessor visited node count: 1103/​1000000
 +Preprocessor generated node count: 0/1500000
 +Post&#​8208;​expand include size: 41218/​2097152 bytes
 +Template argument size: 11920/​2097152 bytes
 +Highest expansion depth: 10/40
 +Expensive parser function count: 0/500
 +Unstrip recursion depth: 0/20
 +Unstrip post&#​8208;​expand size: 6065/​5000000 bytes
 +Number of Wikibase entities loaded: 0/400
 +Lua time usage: 0.016/​10.000 seconds
 +Lua memory usage: 789 KB/50 MB
 +--><​!--
 +Transclusion expansion time report (%,​ms,​calls,​template)
 +100.00% ​ 134.830 ​     1 -total
 + ​46.89% ​  ​63.223 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Th&​ocirc;​ng_tin_chi&#​7871;​n_tranh
 + ​20.63% ​  ​27.810 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Chi&#​7871;​n_tranh_B&#​7843;​y_N&#​259;​m_&#​7903;​_ch&​acirc;​u_&​Acirc;​u
 + ​18.48% ​  ​24.918 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​C&​aacute;​c_tr&#​7853;​n_&#​273;&​aacute;​nh
 + ​17.43% ​  ​23.504 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​WPMILHIST_Infobox_style
 + ​16.13% ​  ​21.745 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​H&#​7897;​p_&#​273;​i&#​7873;​u_h&#​432;&#​7899;​ng
 + ​12.64% ​  ​17.047 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​C&​aacute;​c_ch&#​7911;​_&#​273;&#​7873;​
 + ​10.68% ​  ​14.403 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​C&​aacute;​c_ch&#​7911;​_&#​273;&#​7873;/​Khung
 +  9.82%   ​13.242 ​     6 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Flagicon
 +  8.96%   ​12.075 ​     1 B&#​7843;​n_m&#​7851;​u:​Tham_kh&#​7843;​o
 +--><​!-- Saved in parser cache with key viwiki:​pcache:​idhash:​821057-0!canonical and timestamp 20181014095237 and revision id 19484823
 + ​--></​div><​noscript><​img src="​http://​vi.wikipedia.org/​wiki/​Special:​CentralAutoLogin/​start?​type=1x1"​ alt=""​ title=""​ width="​1"​ height="​1"​ style="​border:​ none; position: absolute;"/></​noscript></​div>​
 +
 +</​HTML>​
0136--cu-c-v-y-h-m-olm-tz-la-gi.txt · Last modified: 2018/11/07 17:09 (external edit)